Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Vô tận hành trình - Chương 2


2. Tay không chiến đấu

Nhà du hành trên chuyến hành trình dài hơn cuộc đời là vô tận. Qua những khu rừng nhiệt đới và những con suối rì rào tiếng nước chảy, những đứa trẻ vẫn tiếp tục cuộc hành trình của mình. Chỉ có điều…

“Công chúa, cuốn sách này được viết bằng ngôn ngữ gì thế?”

Còn đang mải miết xoay ngang xoay dọc cuốn sách lạ hoắc với những kí tự hoàn toàn không thể đọc nổi, thiếu niên than thở.

Như những gì cô đã nói với cậu từ trước, nội trong vòng buổi sáng nay cậu sẽ phải đọc cho bằng sạch từ lời dẫn đến hết mục lục ở cuối cuốn sách đó. Cứ ngỡ rằng cô chỉ thách cậu cho vui vậy thôi Levin nhanh chóng đồng ý mà không suy nghĩ gì vậy mà có ai ngờ đâu cô lại làm thật, và thậm chí quăng cho cậu một cuốn sách với thứ ngôn ngữ mình vốn dĩ mù đặc.

“Đó là… quốc tế ngữ!” - Tặng thêm cho cậu một giây với vẻ nghĩ ngợi cô gái cất tiếng trả lời.

“Tại sao?!” - Chàng trai quát lớn trước sự vô lí hết sức của câu trả lời.

“Chỉ là để chừng phạt cậu chút thôi!”

Không mất bình tĩnh hay nao núng. Đối lập với nụ cười thiên sứ ngây thơ trên khuôn mặt ấy, những ngôn từ khẽ khàng tuôn ra cùng hai chữ <Chừng phạt> như những lưỡi dao sẵn sàng băm nhuyễn ai đó.

“Chúng ta đi tiếp thôi!”

Cô bé quay đầu tiếp tục những bước đi của mình thật hồn nhiên như thể chẳng hề bận tâm gì tới cậu nữa. Và cứ thế, hai người họ lại tiếp tục đi và sẽ lại tiếp tục nghỉ trong cái nóng oi bức của mùa hạ.



 Buổi chiều đến từ khi nào chẳng hay. Tính cho tới giờ nàng công chúa và chàng hiệp sĩ đã đi được năm tiếng đồng hồ nếu bao gồm cả thời gian nghỉ chân của họ.

Chẳng ai biết rõ đây là nơi đâu đặc biệt là hai người họ. Nhưng đã là nhà du hành thì có gì mà phải để tâm. Đường rộng anh cứ thế xông pha thôi.

Con đường bây giờ trải dài. Mặt đất là một lối mòn dài đè lên những lớp cỏ còn thô cứng. Quay lưng về phía sau là một khu rừng rộng lớn còn đằng trước thì cứ lên lên xuống xuống thoai thoải theo nhưng con đồi nối tới nơi bị che khỏi tầm mắt bởi những hàng cổ thụ khổng lồ cao lớn.

Từ không đâu cả một cậu bé chạy tới. Khuôn mặt hớt hải và đôi mắt sợ hãi của cậu như đang bị săn đuổi bởi một cái gì đó. Cậu bé ấy chạy qua hai người họ như một cơn gió yếu đuối sắp cạn kiệt sức sống.

“Cứu! Cứu với!” - Cậu bé từ khi nào đã nép mình sau lưng Levin cất tiếng trong sự sợ hãi.

Cái gì đang tới?!

Hai thiếu niên cùng tự hỏi, cảnh giác đặt tới cao độ.

Và chỉ sớm thôi, câu trả lời đã hiện ra trước mắt họ. Đó là một con quái thú - có lẽ đó là cái tên phù hợp nhất để gọi nó.

Nếu bạn đã từng mê mẩn một hai cuốn thần thoại nào đó thì nó cũng còn được biết tới với cái tên Cyclop hoặc Người khổng lồ một mắt. Chẳng cần phải nói thêm nhiều nữa, hai chữ “khổng lồ” là quá đủ để gợi tả cái cơ thể cao chừng sáu mét kia.

Con mắt to màu nâu đen hung tợn nhanh chóng thay đổi mục tiêu sang chàng hiệp sĩ và nàng công chúa. Vừa kịp lúc thằng nhóc kêu cứu khi nãy không cánh mà bay mất tiêu.

Xem ra thời khắc trổ tài của hiệp sĩ cuối cùng cũng đến.

Ở thế giới mà Levin và nàng công chúa của cậu từng sống có một thứ mang tên “Void”. Nói ngắn gọn một khoảng không trống rỗng đúng như cái tên của nó. Một không gian đặc biệt không thể nhìn thấy hay tác động trực tiếp lên, hoạt động như một chiếc túi không đáy bất kể ai cũng có thế sử dụng.

Cánh tay trái của chàng kị sĩ dơ lên ngang với tầm mắt, đôi mắt cậu có vẻ tập trung dù là ở một hướng vô định. Bàn tay cậu dường như đang nắm chặt lấy một vật vô hình thù.

 Như mọi khi, một luồng sáng bạc hiện lên, bao bọc lấy một vật bằng kim loại dài hơn một mét. Thanh kiếm chàng trai đã bỏ quên suốt gần một thế kỉ qua, tự động xuất hiện trong tức khắc.

Nhưng cũng đừng vội hiểu lầm nhé.

Cái đó chỉ là do trí tưởng tượng phong phú của anh chàng ảo tưởng sức mạnh này vẽ ra thôi. Nào đâu có thứ ánh sáng nào hiện ra, không gian vẫn lẳng lặng như thế. May mắn hơn thì chỉ có mấy hạt bụi lơ lửng bay trong ánh nắng, không hơn không kém gì…

À xém thì quên. Vì người viết mãi chém gió phần phật nên không nhắc trước.

Mỗi giới có một quy luật khác biệt, có nơi sử dụng phép thuật và có chỗ lại phụ thuộc hoàn toàn vào khoa học. Thậm chí còn có những giới bá đạo nhờ có cả khoa học và phép thuật song kiếm hợp bích cộng lại.
Dù các nhà du hành có vạn năng tài giỏi nhảy cóc từ giới này qua giới khác cũng không thể thoát khỏi luật lệ đã đề sẵn được. Gặp chỗ nào thuận lợi thì một đòn tung thiên lật địa cũng chả thấm tháp vào đâu nhưng nơi nào luật lệ hà khắc dị kì khó phá thì cũng chuẩn bị ba chân bốn cẳng chạy đi là vừa.

Thế giới này tuy hoang xơ bí hiểm nhưng có vẻ lại không phải chỗ cho loại phép “summon” hàng nóng kiểu kia chút nào. May ra có thứ khổng lồ xanh lè đằng trước là đạt chuẩn “sữa tươi nguyên chất trăm phần trăm” thôi.

Mặt đất bắt đầu rung lên khiến ta tưởng như tất cả sắp nứt vỡ. Con quái vật tiến lại gần hai người hơn từng bước một.

Không!

Không đời nào Levin lại chịu đầu hàng trước những thứ cỏn con như thế. Trước đây cậu từng là một trong những kiếm sĩ giỏi nhất, cho dù không có kiếm thì tứ chi đầu não vẫn còn đủ dùng.

“Uaaaaaaaaa!”

Theo phản xạ chàng hiệp sĩ nhanh chóng chuyển sang tư thế sẵn sàng.

Thà chiến đấu chứ không đời nào chạy chốn. Cái tính ngoan cố cứng đầu cứng cổ ấy sở dĩ đã là bản chất tự nhiên của tên ngớ ngẩn này.

Levin bóng dáng thoắt ẩn thoắt hiện đã tiếp cận con quái thú khổng lồ. Đứng từ xa cũng đủ thấy cái bóng ấy đang tung ra những quyền cước ảo lòi mắt chẳng khác nào trong phim chưởng của nước nào đó.

Nhỏ đánh lớn. Lại mắc phải mấy giới hạn lằng nhằng, bất lợi đủ đường,  làm đòn đánh của Levin giảm đi phần nào thực lực. Chẳng khác nào muỗi đốt inox, chỉ tổ gãi ngứa đấm lưng người ta.

Chàng trai nhảy lùi về phía cô gái, nhe răng cười một cái:

“Có cái gì chặt chém vẫn dễ chơi hơn nhiều!”

Rõ ràng cậu không đến mức quá chật vật khổ sở không làm được tích sự gì. Chỉ là, người chiến binh đã quen tay cầm kiếm xông pha chiến trận bây giờ lại lấy tay không đọ giáo mác quân thù cũng chẳng phải dễ gì.
Chẳng rõ cô gái có nghe thấy không. Chỉ ném cho cậu một ánh mắt lặng thinh không chút thương hại rồi quẳng ra một con dao ngắn.

Vừa chộp được con dao ấy người Levin đã cứng như đá lạnh như băng chứ còn chẳng dám bò lăn bò toài ra mà cười nữa.

Con dao chỉ như một món đồ trang trí trưng bày trong viện bảo tàng hay bày bản trong cửa hàng đồ chơi, không hơn không kém. Bản dao hơi lớn, truôi lại cột một chiếc lơ màu hồng sặc sỡ. Đó là còn chưa kể tới hiệu ứng ánh sáng lấp lánh màu hồng đầy trái tim liên tục xuất hiện mỗi lần vung dao.

Cô công chúa kia chơi người thế này thì cái ngày cậu tức hộc máu mà chết cũng chả còn xa là mấy.

Đưa cậu một cây kiếm gỗ có hơn không?!

Kể cả que củi cành cây gì cũng được. Miễn sao nó chắc chắn một chút là ngon ăn rồi. Nhưng thôi, ăn mày không nên đòi xôi gấc làm chi.

Tuy dao không phải vũ khí của cậu. Cái thứ ngắn một mẩu nhẹ tênh tênh này không tạo được cảm giác thích thú là mấy nhưng đối với Levin thứ vũ khí gì cũng chỉ là món đồ chơi có thể dễ dàng nằm gọn trong tay cậu bát cứ lúc nào.

Thiếu niên bắt đầu tăng tốc nhanh như cơn gió lao mình về phía trước.

Tiếp cận từ trên không. Trong giây lát con dao ấy cứa mạnh vào đầu và vai con quái vật. Động tác thuần thục và nhanh chóng. Những tiếng kêu thét ồm ồm lại cất lên.

Như bản năng được định sẵn, có thú ngắm tới cái bóng nhỏ bé đang đứng yên của cô công chúa. Nó chạy nhanh, nhấc bổng một cái cây thân gỗ lớn cao vài mét và bắt đầu vung mạnh.

Chẳng quên nghĩa vụ cao cả của mình, trong chớp nhoáng cậu rời khỏi mình con quái vật và nhanh chóng đưa cô gái đang đứng với con mắt vô hồn chẳng sợ sệt kia khỏi tầm tấn công của con quái vật.

Vừa đặt cô gái xuống đất Levin cố đánh lạc hướng con quái vật. Nhanh chân chạy về hướng khác cậu phi mạnh con dao cắm vào… giữa mông con Cyclop.

        

Ừ thì tình thế cấp bách, đánh bừa cũng trúng là may lắm rồi, còn mong chờ gì nữa. Tiện đâu đâm đó, thấy mông con quái vật thì chàng trai chỉ thẳng tay phi con dao tới thôi. Nghĩ gì cho mệt.

“Grrrrrrrrrrrr…!”

Mặt đất lại rung chuyển. Như ý muốn của Levin, cái thứ khổng lồ ấy giờ đã chuyển hướng về phía cậu.
Vốn dĩ cũng vì nể nang cô công chúa kia thế thôi, chứ không thì cậu đã vứt quách cái thứ lố bịch ấy đi từ đầu rồi. Vũ khí gì mà như đồ chơi trẻ con vậy, chốc kiếm tạm khúc cây nào không thì tay bo đấu với con xanh lè ấy còn hơn. Cậu thiếu niên vừa nghĩ thầm, với cái miệng cười, lại xông lên phía trước.

“Rầm!!”

Thân cây gỗ to trên tay con Cyclop một lần nữa nện xuống mặt đất ngay tại nơi Levin đứng.

Không gian xung quanh rung động. Một sự biến dạng. Mặt đất lõm xuống. Cây cối dập nát như mất đi cái vẻ tự nhiên của nó.

Thoáng chốc. Bạn có thể thấy một cái bóng đang lướt mình trên thân cây gỗ. Mặc kệ rằng cậu chẳng có bất kì thứ gì trong tay hay việc bản thân đang đứng ngay trên thứ vũ khí thô sơ của con quái vật đại não chàng trai vận động xoay chuyển nhanh chóng.

Con mắt to và hung tợn của con quái thú bắt gặp Levin. Chẳng biết ai sợ ai, nó đập mạnh khúc gỗ trên tay như muốn quất bay cái que củi màu vàng ấy.

Khúc gỗ va chạm mạnh. Những thân cây lớn xung quanh theo hiệu ứng domino cũng lần lượt gẫy đổ. Chỉ có Levin là may mắn thoát khỏi cơ bẹp dúm dó mình tại đó dễ dàng.

Tưởng như biến mất vào một nơi khác, con Cyclop đảo mắt nhìn quanh mấy lượt cũng không thấy bóng chàng trai.

Bất chợt, chẳng biết từ khi nào cậu đã chạy trên cánh tay con quái vật.

“Ở đây cơ mà!!”

Một cú đấm mạnh bằng bàn tay phải của cậu vào giữa cái khuôn mặt “xinh đẹp” của con Cyclop.
Con vật to lớn bao nhiêu chỉ tổ dễ chết bấy nhiêu. Chúng có quá nhiều điểm yếu lại cộng thêm động tác chậm chạp, tư duy không hoàn chỉnh khiến Levin dễ dàng tạo ra vô số kẽ hở, nhìn thấu điểm yếu con quái vật.

“Cái tên ngạo mạn ngu ngốc đó…” - Từ một góc xa đủ để quan sát cục diện trận đấu cô công chúa cất tiếng.

Dù cho đó có là những cú đấm mạnh đi nữa thì người kiếm sĩ thiếu đi thanh kiếm cũng chẳng thể chiến đấu với toàn bộ khả năng của mình được.

Con Cyclop thao tác không nhanh nhẹn cuối cùng cũng tóm được Levin, sau một hồi thoắt ẩn thoắt hiện quỷ thần không hay.

Levin cố sức ngọ nguậy nhưng không có vẻ thoát được khỏi tay con quái thú đang nhìn cậu với vẻ thích thú như nhìn ngắm thứ đồ chơi chuẩn bị bị bóp nát.

Cậu thiếu niên là người đầu óc đơn giản. Dù có tính câu giờ cũng chẳng được lâu, hết vùng vẫy trong tay con quái vật cậu nở nụ cười có phần chán nản.

Tên khổng lồ một mắt to lớn như bị kích động mạnh. Cả người tê tái, một cảm giác khó chịu lan rộng khắp não bộ khiến nó không thể không ôm đầu kêu than. Vẻ mặt thống khổ vô cùng.

Levin không chút thương tích nào đáp xuống một tán cây gần đó. Xem ra thế giới này chỉ có Void là không dùng được còn phép thuật thì vẫn y nguyên, cậu cười thầm.

Khả năng không chế điện tích lôi hệ của Levin thuộc vào loại hiếm có khó tìm nhất, không thể bị đụng hàng vào đâu được (ít nhất là trong thế giới của hai nhà du hành). Tuy là loại năng lực độc quyền có một không hai nên chẳng dễ gì nắm bắt được và lại rơi vào tay một tên mù tịt phép thuật nhưng một vài tác động nhỏ nhoi trên cũng đủ khiến con quái thú tỏ ra vô cùng khó chịu.

Lúc này con Cyclop đã có vẻ lảo đảo sắp ngã gục xuống. Chốc chốc một luồng điện nhấp nháy lóe sáng lại toát lên trên lớp da màu xanh quỷ dị của nó.

“Một hit finish thật hoành tráng nhé?!”

Levin lại lao tới với một nụ cười như mọi khi. Có lẽ đối với anh chàng này thì trong một trận chiến thời điểm duy nhất mà cậu động não cao độ chắc chỉ là ở phút cuối mà thôi.

Hình dung tất cả như một bức tranh đã được phác sẵn chỉ còn chờ được lên màu cậu chuẩn bị tung đòn kết liễu thì:

“Phập!”

Chẳng rõ từ đâu một tia sáng mạnh mẽ lóe lên. Ánh sáng ấy, một mũi tên. Chính xác, nhanh gọn, cắm thẳng vào mắt con quái vật.

Vô tận hành trình - Chương 1


1. Nhà du hành

Mùa hè… Cái nóng gay gắt…

Bất chấp ánh nắng chói chang gần 50°C từ quả cầu cháy bỏng trên cao đang chiếu xuống bước chân của những đứa trẻ chẳng quản ngại thời gian lại tiếp tục hằn in lên mặt đất.

“Nghỉ tại đây!” – Cái giọng đều đều ấy lại ra lệnh, là tiếng con gái.

Vượt qua núi đèo của chốn rừng rậm chẳng hề biết tên, cuối cùng đôi chân họ cũng quyết định nghỉ ngơi.
Tựa mình dưới một gốc cây cao ngút trời, đôi mắt long lanh của cô gái với mái tóc xanh và bộ trang phục đồng màu dần chìm vào giấc mộng. Bên cạnh cô, đồng thời cũng là người tạo cho cô gái cái cảm giác yên tâm để có thể nghỉ ngơi là bóng dáng cậu thiếu niên mái đầu vàng óng với đôi mắt màu hổ phách hiếm thấy.
Một cách vô tư cậu duỗi thẳng cả hai chân ra giữa nền đất bám đầy cỏ dại mơn mởn sắc xanh.

Ngửa mặt lên trời ngắm nhìn khoảng không rộng lớn của sắc xanh hòa lẫn với mùi hương gỗ phảng phất trong không gian, thiếu niên lại lặng lẽ nhìn “nàng công chúa ngủ trong rừng” của cậu.

Bất giác cái miệng quen thuộc của cậu lại mỉm cười với chút xảo trá.

Bật ngửa người dậy bằng hai cánh tay chống trên mặt đất, cậu lúc này đang khẽ khàng và thật khéo léo bò như một con rắn âm thầm dình dập con mồi của mình.
.
.
.
!

Thay vì “có ý đồ đen tối gì đó” thì cậu bé ngây thơ vô số tội ấy chỉ đơn thuần là chạm nhẹ lên nước da mềm mại của nàng công chúa mơ mộng kia. Hay đúng hơn thì cậu mới chỉ định véo nhẹ vào má cô bé một cái như muốn chọc cô thức giấc. Vậy mà chẳng hiểu vì sao, bất chợt cánh tay đang giữ cả cơ thể cậu trên mặt đất lại như chẳng còn trụ vững.

 Cả người cậu nhanh chóng đổ xuống khiến cho khuôn mặt cậu cắm thẳng vào thân cây gỗ lớn.

Tất nhiên chẳng có cái gì gọi là cảm giác đau như mọi khi. Tuy nói là thân cây nhưng bản thân người cậu chẳng rõ làm sao, giờ đã ngả mình vào một cái gì đó mềm mềm và ấp áp hơn thế.

Nước da trắng tuyết, hàng mi cong dài. Đôi môi hồng tươi như cánh hoa thấm đậm sắc xuân. Mái tóc óng mượt lấp lánh làn nước biển cả. Cũng lâu lâu cậu mới lại có cơ hội để ngắm nàng công chúa của mình ở gần tới thế này.

Quả là chẳng thể rời mắt được!

Nhưng mọi chuyện cứ thế mà xong thì thật đơn giản quá. Đời lúc nào chẳng chớ trêu khi số phận chỉ thích đùa giỡn với con người là vậy.

Ở cái khoảng cách chỉ còn vài centimet giữa hai khuôn mặt lúc này, đôi mắt ấy từ từ nhưng cũng nhanh chóng mở to. Một cái nhìn sâu và xa ánh lên từ đôi mắt chiếu rọi bầu trời xanh.

Cậu thiếu niên bắt gặp nó. Một lần nữa cậu lại chẳng thể rời mắt khỏi cái vẻ kiêu sa hoàn mĩ ấy.
Bởi những dây thần kinh chẳng còn tồn tại trong bộ não vẫn đang hoạt động kia đã quên đi cảm xúc có tên xấu hổ, tên ngốc với cái tài hội họa của mình lại tìm thấy thêm một góc nhìn sâu hơn trong bóng hình quen thuộc ấy. Chàng trai mải ngắm nhìn cô gái mà chẳng hề nhận ra xung quanh có biến đổi ra sao.
Nhanh chóng, cái tát mạnh tới “bốp” một tiếng đập vào mặt cậu.

Dù não bộ có đưa ra những tín hiệu phản xạ cực tốc đi chăng nữa, cậu vẫn ngây ngô vờ như chẳng biết gì.
Có lẽ cô chỉ ngượng quá lên phản xạ tự nhiên nó thành ra vậy thôi. Cậu cũng chẳng giận gì đâu, mà vốn dĩ cũng đâu phải người có quyền được giận trong tình cảnh này.

Levin – chàng trai trong trang phục với mái tóc và trang phục màu vàng như ánh nắng chợt mỉm cười. Từ từ đứng dậy, cậu nhóc vốn chẳng hề giỏi giang với những ngôn từ hoa mĩ gãi đầu cười trong khi cánh tay nhanh nhẹn vươn ra chờ cho cô gái nắm lấy:

“Xin lỗi nhé!”

Đó là cách làm hòa của họ. Chỉ cần một câu nói giản đơn ấy thì dù cho có là bất cứ chuyện gì đi nữa cũng có thể được hóa giải.

Cánh tay nhỏ bé của cô công chúa lại một lần nữa nắm lấy tay cậu một cách tự nhiên như chẳng hề có gì xảy ra.

Và chỉ đợi có vậy, chàng trai lại cười. Levin khoái chí cười, đôi mắt cậu như nhắm tít lại và cái vẻ tràn đầy tự tin lại lộ rõ trên khuôn mặt.

Những ngón tay đan xen lẫn nhau. Giữa rừng cây rộng lớn mơn mởn sắc xanh mùa hạ, chỉ có những bước chân vô thanh nhẹ khắc in lên mặt đất. Các nhà du hành lại bắt đầu chuyến hành trình của họ.

Vô tận hành trình - Mở đầu


Ờ thì cái gì chẳng có kết thúc.

Đời người ngắn một mẩu đem mộng chiêm bao được mấy đêm cũng đủ hết. Muốn sống cũng khó mà muốn thoát khỏi hiện thực lại càng khó nữa…

Nếu có một ngày bạn đang chán đời bỗng dưng bắt gặp một cậu thiếu niên tóc vàng ngênh ngang giữa đường miệng hát mấy điệu là lạ, trang phục khác người hay một cô nàng mái tóc buộc hai bên, đầu chẳng quá ngang vai cùng đôi mắt lạnh lùng sắc bén mời bạn đi “chu du khắp giới, xuyên thiên vượt địa” thì bạn có đi không?

Đi chứ!

Chả đi luôn ấy lại còn hỏi?!

Vậy thì còn đờ người ra đó, mắt chứ A mồm chữ O làm gì nữa?

Mau chạy theo chân họ đi là vừa!

Các nhà du hành nhanh chân lắm, dù chỉ là đi bộ thôi. Họ chẳng hơi đâu chờ bạn làm gì và cũng chẳng bao giờ trở lại một chốn hai lần. Chỉ có đi thôi, đi để tìm cái ý niệm to lớn của chuyến hành trình họ đang theo đuổi hoặc thuần đơn, chỉ là để thỏa chí phiêu du.

Nếu muốn đi cùng họ thì bạn phải có đủ thứ: học vấn, sức khỏe, tài năng… Nhưng kiên trì rèn luyện để có được những thứ ấy thì từ lúc nào đã xuống mồ ngủ với giun rồi chẳng hay.

Bây giờ hãy cứ chạy thôi đã. Chạy theo hai cái bóng của những kẻ chẳng bận thời không dám thách thức mọi thứ ấy là đủ lắm rồi. Và biết đâu một ngày nào đó chính bạn sẽ là người vượt qua những dấu chân ấy trên chuyến hành trình của chính mình, như họ cũng đã từng…

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Trái táo cuối cùng ~Original~



Tên nhân vật chính của câu chuyện là Matt. Có thể tên của anh là “Matthew”, “Martin”, “mát mẻ” hay một cái gì đó mát hơn nhưng mọi người và chính anh cũng chỉ cần biết tên mình là Matt. Tuổi tác của anh chàng này thì khoảng hơn thì khoảng chưa tới hai mươi. Còn nghề nghiệp thì có thể nói Matt có định hướng để trở thành một kĩ sư nông nghiệp hoặc ít nhất thì đó là những gì anh đăng kí theo học.

Bây giờ không phải mùa hè, có thể cho rằng anh vẫn còn đang là một sinh viên nhưng công việc hiện giờ của anh có thê được tóm tắt bằng hai chữ: nông dân. Matt không tự nhận hay công khai rằng mình đang thực tập hay chốn học mà chỉ đơn giản là về quê làm đồng.
__________________

Hơn một năm trôi qua từ lúc Matt tới thị trấn yên bình “Not too peaceful” để xây dựng nông trại của riêng mình.

Khác với cái bộ mặt thờ ơ của anh chàng này, Matt thực sự có hứng thú với việc trồng trọt. Ngoài ra anh cũng có một sở trường đặc biệt đối với việc nấu ăn dù là anh tự sắm cho mình một căn bếp không phải để phục vụ cho tài năng ấy.

Buổi sáng lại đến như cách nó vẫn thường gõ cửa những con sâu lười cuộn tròn mình trong chăn ấm. Tiếng chuông đồng hồ kêu vang khắp cả căn phòng như thúc giục con người trở dậy sau một giấc ngủ ngon lành hay cũng còn là cả một mùa đông lạnh giá.

Xuân sang, vạn vật lại bưng tỉnh với sức sống mãnh liệt hướng mình về trời cao.

Sau khi phủi đi chút vụn bánh mì khô dính trên chiếc áo kẻ màu lam Matt tiến về phía cánh cửa rộng chừng một mét. Cánh cửa khẽ mở với những tiếng ken két của tấm bản lề cũ.

Đằng sau cánh cửa ấy là cả một thể giới rộng lớn tươi sáng tràn ngập ánh bình minh. Một cánh đồng rộng lớn trải dài hiện ra. Cánh đồng ấy rộng tới mức ta có thể dễ dàng đi lạc vào nó không khác gì so với việc lạc vào một khu rừng cổ thụ khổng lồ. Ở nơi ấy mùa xuân đang vươn mình trên những dàn dưa chuột. Còn những dàn dưa lại vươn mình hướng tới mùa xuân.

Matt lại cần mẫn với công việc của mình như mọi khi. Nhưng có vẻ như cánh đồng bạt ngàn ấy cũng không phải một nơi dễ dàng gì để chăm sóc dù chỉ với một việc tưới nước đơn thuần.

Gần mười giờ sáng, cuối cùng Matt cũng đã làm xong công việc tưới nước. Dù không ưa gì với việc xã giao nhưng anh vẫn thường đi lang thang trong thị trấn chỉ để giết thời gian.

Vừa bước khỏi cánh đồng rộng lớn của mình, Matt đi theo con đường lớn có lát gạch đá màu đỏ tươi hướng về thị trấn. Một điều kì lạ khác với mọi ngày của thị trấn là tất cả mọi người đều không ở vị trí của họ mà cứ như thể họ đã biến mất một cách không tăm tích.

Sự sống chỉ vừa mới đâm trồi trên mặt đất thì không khí sôi nổi của nó đã mất dấu theo những con người. Hay nó chỉ được dẫn lối để đi tới một nơi nào đó khác thôi?

Vội lục lại cuốn lịch trong bộ não mình Matt cuối cùng cũng nhớ ra một điều gì đó. Thì ra hôm nay là cuộc thi nấu ăn thường niên của thị trấn.

Thị trấn này khá yên bình bởi vẻ tự nhiên của nó còn cái tên mà người ta vẫn gọi nó - “Not too peaceful” – thì lại được bắt đầu từ những sự kiện, lễ hội diễn ra hàng năm vô cũng náo nức. Những lễ hội ấy là một phần văn hóa của thị trấn và cũng chính là nguồn gốc của niềm vui đối với những con người nơi đây.

Mùa xuân dĩ nhiên là được bắt đầu bởi việc đón năm mới như ở những nơi khác nhưng chỉ hơn một tuần sau đó sẽ là cuộc thi nấu ăn mà ai cũng háo hức mong chờ.

Không giống với những cuộc thi bình thường khác, cuộc thi nấu ăn được tổ chức ở bãi biển. Biết vậy nhưng Matt không hề phấn khởi hay vui mừng tới mức chạy thật nhanh đến đó mà anh chỉ đi bộ với những bước chân sải dài hơn đôi chút.

Nhộn nhịp trong không khí của lễ hội là sự xuất hiện của toàn thế cư dân nơi thị trấn ven biển nhỏ bé này. Matt bước tới bãi cát vàng trải dài với bộ mặt như chẳng bao giờ có chút hứng thú với một cái gì đó dù mọi người vẫn hết sức chào đón anh – đầu bếp hàng đầu thị trấn – tới nhập cuộc.

Từ khi anh chuyển tới đây vào mùa xuân năm ngoái dường như không ai là không biết tới cái tài nấu nướng của anh. Làm nông dân chưa được một tháng thì anh đã nhận được lời đề nghị chuyển sang làm “bếp trưởng” cho quán ăn duy nhất trong thị trấn từ chính đầu bếp và cũng là chủ quán ở đó. Không những thế nhưng dù không muốn nhận thì bác thợ mộc cũng đã có ý tặng anh luôn cả một căn bếp với đầy đủ tiện nghi. Thế mà cuối cùng Matt vẫn từ chối tất cả để trở về trồng rau và tự kiếm tiền mua một căn bếp cho riêng mình. Anh chàng này quả thật là một con người kì cục nhưng có lẽ chính sự kì cục ấy đã khiến anh vứt bỏ cuộc sống nơi thành phố bụi bặm của mình để trở về nơi này cũng nên.

Thị trưởng của thị trấn đích thân đến để thông báo đề tài cuộc thi năm nay với Matt bởi lẽ mọi người và ngay cả chính ông cũng mong đợi vào anh chàng này không ít. Người đàn ông trung niên với khuôn mặt mập mạp và cái bụng béo tròn có vẻ hơi quá khổ so với bộ trang phục màu đỏ tươi như lễ hội mùa xuân chậm dãi bước tới. Với cái bụng ấy thì ông lão có vẻ đã là một ứng cử viên sáng giá để trở thành một ông già Noel cho sự kiện mùa đông vừa qua tuy nhiên đối với khoảnh khắc mùa xuân lúc này thì ông cũng mang cái vẻ của một thành viên trong ban giám khảo của cuộc thi nấu ăn lắm chứ.

Lại nhắc đến ban giám khảo của cuộc thi lần này, đối lập hoàn toàn với con người mập mạp kia vị ban giám khảo này có phần hơi giống với Matt. Ông ta cũng khá lớn tuổi nhưng hơn gày gò, rất ít cười và là một con người khắt khe với mọi thứ nhất là đối với món ăn. Dù ông không phải là dân chuyên nghiệp gì nhưng đó là tố chất của một nhà bình phẩm thường có và cũng chỉ là bản chất khác biệt trong mỗi con người.

“Chủ đề của năm nay là món tráng miệng!”

Lời tuyên bố của ngài thị trưởng vang lên đi kèm theo đó là những tiếng hò reo phấn khích. Không còn lựa chọn nào khác Matt chỉ còn biết chiều lòng những con người đã luôn yêu mến anh suốt thời gian qua.

Trên con đường trở về chuẩn bị Matt không ngừng nghĩ tới một món tráng miệng thật đặc biệt. Nhưng có vẻ như con đường ấy đã quá ngắn so với anh, anh chàng này mãi đi trong suy nghĩ của mình đến nỗi đi quá cả đường về nhà cũng không hề hay biết.

Đằng sau thị trấn là một ngọn đồi xanh tươi phủ ánh nắng ấm áp. Tất nhiên bây giờ đã trưa rồi nhưng nắng vẫn còn trong và đẹp lắm. Ánh sáng phủ khắp cả con đồi trải dài xuống những cánh đồng và lướt trên từng mái nhà đỏ tươi của thị trấn. Khi bắt gặp thứ màu sắc ấm áp ấy Matt mới như tỉnh lại từ trong ý thức của chính mình. Hay cái anh đã bắt được trong đôi mắt ấy lại là một thứ gì đó khác kia. Nó khác một cách rực rỡ và thu hút mọi con mắt chứ không dịu dàng hay ấm áp.

Một thứ quả màu đỏ tươi mà có lẽ ta sẽ chẳng bao giờ có thể có cơ hội được nhìn thấy trong khoảnh khắc mùa xuân. Vậy mà hôm nay anh chàng lang thang này lại có cơ hội để được chiêm ngưỡng chúng. Những trái táo mang theo chút hương vị còn sót lại từ một mùa thu xa xôi nào đó đang được nâng niu trên đôi tay của cô thôn nữ vô cũng duyên dáng. Cô gái ấy quả giống với những tia nắng xuân không chút rực rỡ đang bao trùm lên cảnh vật ngoài kia. Với một chút ngượng ngùng cô gửi tới Matt một ánh mắt long lanh đầy tò mò.

Cô gái ấy là Ren, một thành viên của thị trấn “Not too peaceful”. Cô là con gái của chủ tiệm tạp hóa, ngày ngày cô đều đến ngọn đồi này bất kể dù nắng hay mưa với một lý do mà Matt vẫn chưa hề biết tới. Cô là một con người nhút nhát và có vẻ không được hòa đồng nhưng Ren luôn là một cô gái tốt bụng và dịu dàng trong mắt mọi người.

Lúc này có vẻ cả hai người đang rơi vào một tinh huông khó tả. Cả hai đều là những con người không tốt trong việc giao tiếp và họ cũng chẳng thân nhau để biết nói lên câu gì nhưng cũng không thể bất lịch sự để không chào hỏi nhau lấy một lời.

“Chào cậu...”

Matt cất lên một lời chào như để cho qua chuyện và cứ như thế Ren cũng ngập ngùng đáp lại:

“Xin chào…”

Cứ tưởng rằng cả hai sẽ trở về với công việc không liên hệ gì tới nhau của mình nhưng cuối cùng lại là không thể. Hai người họ đang đứng đối diện với nhau trên con đường mòn hướng tới ngọn đồi. Con đường này rất hẹp và khá khó đi nhưng người dân ít có dịp để ý tới nơi này nên họ cũng chẳng chú tâm tới việc sửa chữa lại nó nhiều.

Hai người đang đi về hai hướng khác nhau nhưng họ không thể nhường nhau một cách dễ dàng gì. Nhận thấy rắc rối Ren đã quyết định lên tiếng trước:

“Tớ sẽ lùi lại ngay đây!”

Nhưng khi cô vừa dứt lời thì đôi chân ấy đã vô tình trượt xuống chỉ còn để lại đôi tay đang cố bám vịn lấy một cái gì đó.

Nếu đây là một trò chơi thì ta sẽ có một cơ hội để được chọn lựa giữa việc cứu giúp người con gái này hoặc mặc kệ nhưng ở thế giới thực này thì chẳng có một sự lựa chọn nào mà không dẫn tới hệ quả hết. Matt nắm lấy cánh tay của cô gái đang trơ vơi một cách nhanh chóng như không hề do dự.

Để kéo được cô gái này lên thì không phải là một chuyện khó khăn gì nhất là khi cả hai người có sự hợp tác với nhau dù cánh tay cô đang run lên vì sợ hại.

Ngọn đồi không quá cao và vì thời điểm này là mùa khô nên cô đã dễ dàng để có thể trèo lên được. Nhưng những trái táo – thứ quả đã thu hút đôi mắt của anh chàng có tài nấu ăn hơn cả người con gái xinh đẹp dịu dàng kia, thứ mà đáng lẽ ra vẫn đang được nâng niu trong chiếc giỏ của cô gái kia đã rơi xuống mặt đất một cách không thương tiếc từ lâu.

“Cậu có sao không?”

Matt hỏi thăm cô gái với đôi tay vẫn còn run đang cầm chiếc giỏ rỗng không.

“Tớ không sao…”

Cô mỉm cười và đáp lại sau khi kiểm tra lại chiếc váy có hoa văn cổ điển của mình. Nhưng khi bước đi thì có vẻ như cái chân của cô không được chắc chắn cho lắm như thể nó đã bị va đập vào đâu.

“Để tớ đi cùng cậu…”

Đưa ra một lời gọi ý nửa vời, Matt tìm cách giúp đỡ cô gái yếu đuối cũng như cảm thấy phần nào có lỗi.

“Nhưng…”

Hơi thở dài về một điều gì đó anh chàng nông dân lại nói tiếp:

“Không sao đâu!”

Hai người họ cùng đi trên con đường nhỏ xuống đồi từ từ trong khi ánh mặt trời ngày một lên cao. Không một lời nào họ trao cho nhau trong suốt con đường ấy nhưng có lẽ họ đã gửi tới nhau một cái gì đó ngay từ đầu.

“Cảm ơn cậu nhé! Nhà tớ đi đường này.”

Sau khi chỉ về phía con đường khác dẫn vào thị trấn từ chân đồi, Ren từ biệt Matt với một lời cảm ơn và một nụ cười.

Không một lời nào nói thêm, Matt đưa bàn tay lên khẽ vãy từ một khoảng cách không quá xa.

“À phải rồi…”

Ren chạy tới trong khi đang lẩm bẩm một điều gì đó.

“Cái này là quà cảm ơn cậu!”

Tặng cho anh chàng ấy một quả táo đỏ tươi cô với cái chân vẫn còn đau của mình chạy thạt nhanh với khuôn mặt mà có lẽ bây giờ đã đỏ bừng lên.

Chỉ còn lại một quả táo lành lặn trên tay anh còn chưa kịp cất lên lời thì cô gái đã bỏ chạy mất tiêu. Matt đành trở về nhà với một chút suy ngẫm đã cất thành lời:

“Táo à?”

Matt nghĩ tới món bánh táo mà mình đã có cơ hội để thưởng thức hồi mùa thu năm ngoái trong nhà hàng của thị trấn. Rồi anh lại đờ ra đó khi nhớ rằng người làm món bánh ấy không ai khác lại chính là Ren – người đã cho anh trái táo khi nãy.

Cuộc thi kết thúc với kết quả chiến thắng của Matt. Tất nhiên anh không nhận được gì theo tinh thần của cuộc thi nhưng có lẽ ngày hôm ấy anh cũng đã nhận được một cái gì đó khác từ một con người khác biệt mà anh chưa hề hay biết tới trong suốt một năm qua.

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2012

Nguyện ước của chú chim nhỏ không cánh

“Nerris, cậu có biết không? Nếu có một điều ước, mình sẽ ước trên vai mình lúc này đây là một đôi cánh.”

“Tại sao vậy?”

“Tại sao ư…? Mình cũng chẳng biết nữa…”

*              *
*


 Chỉ còn hai ngày nữa thôi! Chỉ còn hai ngày nữa là kết thúc mùa hè cuối cùng bên Nerris rồi! Ngoài việc ngồi than thở và lặng lẽ nhìn thời gian lướt qua, tôi chẳng còn biết làm gì hơn cả. Chỉ cần nhắm mắt và tưởng tượng thôi, hai ngày nữa, hai ngày nữa thôi là khuôn mặt, nụ cười và hình bóng của Nerris sẽ chỉ là kí ức đối với tôi. Cứ nghĩ đến điều đó là tim tôi như vỡ ra thành nghìn mảnh. Tôi muốn Nerris luôn ở bên tôi, luôn cùng tôi đi mãi cho đến nơi tận cùng của cái thế giới này. Nhưng đây là lần thứ bao nhiêu tôi ích kỉ như thế này rồi?

 Nerris là người bạn duy nhất của tôi từ khi còn học tiểu học. Cái gì tôi cũng kém còn Nerris thì lại giỏi. Dù không muốn nhưng cậu ấy có rất nhiều bạn còn tôi chẳng có ai ngoài cậu ấy. Tôi cảm thấy mình thật vô dụng. Phải, tôi vô dụng đối với chính tôi cũng như đối với Nerris và tất cả mọi người trên thế giới này.

 Hôm nay là một ngày oi bức trên cánh đồng mùa hạ, tôi lại dạo bước trên con đường thân quen ấy. Tôi gần như thuộc hết từng gốc cây ngọn cỏ trên con đường này bởi lẽ ngày nào tôi chẳng đi qua nó. Đây rồi, băng qua cánh đồng mùa hạ ấy, một ngôi nhà cổ kính với kiến trúc phương Tây trang nhã đang đứng lẻ loi một mình. Đó chính là nhà của Nerris.

 Nerris sống một mình ở ngôi nhà này từ hồi lớp 7. Bố mẹ cậu ấy nghiêm cứu về sinh vật học nên không có thời gian để ở lại lâu ở đâu cả. Nhưng vì không muốn gây ảnh hưởng tới việc học của Nerris nên hai người họ đã để cậu ấy lại thị trấn này. Tôi luôn biết rằng ở đâu đó trong con người cậu ấy vẫn khao khát cái hơi ấm và tình yêu thương của gia đình dù Nerris chẳng bao giờ nói mình cô đơn cả. Đó cũng là một điều dĩ nhiên vì con trai thì làm sao có thể khóc lên mỗi khi thấy buồn giống như con gái được. Không biết như thế này có thành ra phiền hay không nhưng có lẽ đến nhà cậu ấy mỗi ngày như thế này sẽ giúp cho ngôi nhà nhỏ bé ấy đỡ buồn chán đi được phần nào đó.

 “Cộc cộc cộc… ”
 “Kééééét”
Cuối cùng Nerris cũng chịu mở cửa rồi. Tôi nở một nụ cười và nói:
“Chào buổi sáng, Nerris!”

Cái giọng nói ấy lại cất lên, không vui tươi mà cũng chẳng uể oải như mọi ngày:

“Chào buổi sáng.”

“Hôm nay cậu sẽ nghiên cứu về cái gì vậy?”

Câu hỏi thường ngày của tôi lại cất. Đó cũng đồng thời là câu nói thứ hai của tôi với Nerris.

“Hôm nay tớ sẽ dọn dẹp phòng nghiên cứu!”

Bố mẹ Nerris đã làm một căn phòng nhỏ để cậu ấy nghiên cứu. Nerris rất thích tìm hiểu về thiên nhiên. Ngoài ra cậu ấy rất yêu động vật, đặc biệt là các loài chim. Tuy nói là “phòng nghiên cứu” nhưng trong căn phòng này chẳng có nhiều mẫu vật lắm, đa phần chỉ là các văn bản báo cáo do Nerris viết lại thôi. Do đó việc dọn dẹp căn phòng này cũng chẳng phải là một điều khó khăn lắm. Công việc của chúng tôi chỉ đơn giản là phân loại và xếp những bài báo cáo ấy lên giá sách mà thôi. Nói là phân loại nhưng chỉ cần kiểm tra xem chúng có bị lẫn vào nhau hay không thôi bởi ngay từ đầu Nerris đã sắp xếp mọi thứ một cách phù hợp nhất đối với chính cậu ấy rồi. Hơn 11 giờ, công việc của chúng tôi đã xong hoàn toàn.

 Có lẽ mọi thứ dễ dàng như vậy vì tôi đã quen với công việc này rồi. Mỗi năm Nerris đều dọn phòng nghiên cứu của cậu ấy 5 lần. Lần thứ nhất là ngay sau kì thi cuối năm của chúng tôi- cuối xuân đầu hạ. Lần thứ hai là hôm nay-hai ngày trước khi mùa hè kết thúc. Và điều hiển nhiên là lần thứ ba và bốn rơi vào khoảng thời gian cuối thu và đông. Vậy còn một lần nữa?  Lần dọn dẹp cuối cùng trong năm là khoảng thời gian trước Tết. Tôi đến nhà Nerris để cùng cậu ấy dọn dẹp vào tất cả mọi lần trừ lần thứ năm. Trước Tết là khoảng thời gian bận dộn nhất, vì vậy tôi phải ở nhà để phụ giúp cha mẹ.

 Tôi bỗng thấy nhớ lần đầu cùng Nerris dọn dẹp. Tôi bắt đầu qua nhà Nerris thường xuyên hơn từ hồi cuối lớp 6.  Lần đầu tiên tôi cùng cậu ấy dọn căn phòng này còn có cả mẹ cậu ấy nữa nhưng giờ đây tất cả đều do hai chúng tôi. Có thể nói mấy lần đầu tôi chẳng biết làm thế nào cả. Không phải vì tôi không biết làm mà vì mọi thứ đều được sắp xếp theo một cách rất kì lạ. Tuy nhiên, bây giờ tôi cảm thấy tất cả đều thật đơn giản.

 Đứng lên khỏi chiếc ghế gỗ, tôi nhẹ nhàng bước tới nơi cách cửa xổ đang khép mình và  khẽ mở nó. Phía ngoài kia-khu vườn nhỏ nhà Nerris, những tia nắng đang chiếu rọi qua những tán cây cổ thụ. Chúng không chiếu xuống mặt đất bằng một sắc màu ấm ấp nữa vì…

“Giờ đã là buổi trưa rồi!”

“À, ừ, bây giờ đã trưa rồi, cậu có muốn ăn gì không?”

 Một buổi dã ngoại bình thường trên cánh đồng tĩnh lặng. Dưới bóng cây cổ thụ khổng lồ tôi có thể cảm nhận được những con gió mùa hè đang nhẹ nhàng thổi từ phương Nam. Trước đây tôi từng cảm thấy mùa hè là thời điểm hạnh phúc nhất trong năm nhưng giờ đây, chính vào cái lúc “hạnh phúc nhất trong năm” này mà tôi sắp phải rời xa Nerris rồi.

 “À phải rồi Nerris, cậu sẽ đi vào sáng ngày kia phải không? Mình sẽ đến đây và đi cùng cậu ra nhà ga nhé?”

Tôi mỉm cười, nhìn về phía Nerris như tìm kiếm câu trả lời. Nerris nhìn vào một cái gì đó xa vời ngoài kia rồi giọng cậu lại cất lên:

“Kế hoạch thay đổi rồi, tớ sẽ đi vào ngày mai. Lúc 17 giờ 45’ chiều mai!”

Tôi cố gắng dấu đi cái vẻ bàng hoàng như nghe một tin rất xấu:

“Vậy à? Dù hơi sớm nhưng ‘Đi đường cẩn thận nhé!’”

      Một nụ cười nhỏ bé đang ánh lên trên khuôn mặt của tôi.

Tất nhiên vẫn có một nỗi buồn thoang thoảng ở đâu đó nhưng điều mà bạn có thể nhìn thấy rõ nhất vẫn là nụ cười. Nụ cười của tôi không giống như kiểu thở phào nhẹ nhõm trước một việc đã qua mà nó giống như đang cảm tạ Thượng đế về một điều gì đó vậy. Vậy là thời gian còn lại của hai chúng tôi sẽ không phải là quá ngắn tuy nhiên đây sẽ là buổi chiều cuối cùng của tôi và Nerris rồi!

  Đôi mắt của cậu ấy nhìn về phía bầu trời xa xôi và những dãy núi đang nối tiếp nhau ở nơi đường chân trời xa thẳm một lát rồi lại nhìn về phía cánh đồng bạt ngàn trước mắt chúng tôi. Bất giác, một chú chim nhỏ đậu xuống trên ngọn đồi nơi chúng tôi đang ngồi. Điều này có vẻ hơi kì lạ vì những chú chim nhỏ bé như chú chim này sẽ chẳng bao giờ lại gần con người như thể này cả. Và điều tất nhiên là chú chim này bay ra từ phòng thí nghiệm của Nerris rồi. Một lý do ư? Sẽ chẳng có lí do nào để chúng không được tự do bay lượn như vậy. Vì Nerris đã từng nói cậu ấy rất yêu quý động vật nhưng cậu ấy không muốn chúng trở thành “tù nhân” của nơi này. Cậu ấy luôn muốn chúng được tự do vì vậy sau khi hoàn thành bài nghiên cứu của mình Nerris đều để chúng được trở về với mẹ thiên nhiên. Nhưng một điều kì diệu đã xảy ra, những chú chim đã từng bay đi lại một lần nữa trở lại nơi này. Phải chăng những loài chim đã kể cho nhau nghe về “ngôi nhà” này rồi nhỉ? Cái nơi mà chúng có thể trở về bất cứ khi nào mình muốn và ở nơi ấy chúng sẽ luôn nhận được tình yêu thương và sự chăm sóc của Nerris. Ngay cả những chú chim chưa từng được nghiên cứu cũng sẽ được chào đón ở nơi đây và khi chúng bay đi, bay mãi và không còn trở lại thì Nerris cũng chẳng bao giờ mắng trách chúng một lời nào cả. Còn lúc này đây, tôi tự hỏi, liệu những chú chim sẽ ra sao khi Nerris không còn ở đây nữa? Những chú chim lữ khách chỉ  một lần nghé qua nơi này thì có thể sẽ không sao nhưng những chú chim vẫn đang được nghiên cứu? Tôi không tin rằng Nerris sẽ bỏ mặc chúng đâu, nhưng vẫn còn ba, bốn chú chim vẫn chưa được nghiên cứu nữa. Giá như tôi có thể giúp đỡ Nerris nhiều hơn thì tốt biết mấy. Một ngày nào đó, khi Nerris rang rộng đôi cánh của mình và bay trên bầu trời xanh rộng lớn kia, tôi muốn được cùng bay với cậu ấy, được giúp đỡ và mãi mãi ở bên cậu ấy… Nhưng tất cả chỉ là một giấc mơ viển vông, một giấc mơ vô cùng xa xôi mà tôi chẳng bao giờ có thể với được cả.

“Cậu còn nhớ đôi chim màu xanh biển không?”

Đã được một lúc khá lâu kể từ lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện rồi. Lúc này, mặt trời đã lên tới đỉnh cao nhất của bầu trời, tiếng ve sầu kêu ngày một rõ. Câu hỏi của Nerris khiến tôi hơi có chút ngạc nhiên. Nhưng tôi ngạc nhiên không phải là vì nội dung của câu hỏi mà vì người đặt ra và thời điểm mà nói được hỏi.

“Tất nhiên mình nhớ rất rõ rồi!”

Đó là cái lần thứ ba tôi tới dự tiệc sinh nhật của Nerris mà nó cũng không hẳn là một bữa tiệc. Bởi tất cả những gì chúng tôi có là một chiếc bánh kem nhỏ và mấy cái kẹo.

Còn về người tham dự thì hẳn là ai cũng rõ, chỉ có tôi và Nerris. Lúc ấy trời vừa tối được một lát thì có tiếng gõ cửa. Khi hai chúng tôi ra mở cửa thì gặp bác đưa thư với một chiếc lồng nhỏ bọc vải ở ngoài và một lá thư trên tay. Nerris nhận thư và chiếc lồng ấy sau khi biết được điạ chỉ của người gửi. Dù bên ngoài lá thư chỉ có dòng chữ “Chúc mừng sinh nhật” và nơi nhận thư nhưng cả hai chúng tôi đều có thể biết được người gửi qua những dòng chữ ấy. Người gửi bức thư đó không ai khác chính là bố mẹ của Nerris. Còn trong chiếc lồng kia là hai chú chim với bộ lông và đôi mắt màu xanh biển được mẹ cậu ấy gửi tới với một thông điệp mà cho đến giờ chúng tôi vẫn chưa thể nào hiểu được.

“Nhưng, Nerris thấy có điều gì không ổn về chúng à?”

“À,… Không, không có gì đâu!”

Khi người ta nói “không có gì đâu” thì chẳng mấy khi nó thực sự có nghĩa đó. Nhưng tôi cũng sẽ không hỏi gì thêm về chúng hết vì Nerris chỉ không kể cho tôi một chuyện gì đó khi cậu ấy đã có cách giải quyết của riêng mình thôi…

“Nerris, cậu có biết không? Nếu có một điều ước, mình sẽ ước trên vai mình lúc này đây là một đôi cánh.”

“Tại sao vậy?”

“Tại sao ư…? Mình cũng chẳng biết nữa…Có lẽ vì… mình muốn được ở bên Nerris mãi mãi…”

Bản thân tôi cũng chẳng thể hiểu được tại sao mình lại nói ra những lời ấy nữa nhưng tôi luôn muốn mình có thể giúp được một điều gì đó cho Nerris. Thử nghĩ mà xem, nếu chúng tôi là hai chú chim thì sao? Chắc chắn Nerris sẽ là một chú chim tuyệt đẹp với đôi cánh luôn mở rộng như đã sẵn sàng bay. Còn tôi thì lại khác, nếu bản thân là một chú chim thì dĩ nhiên tôi sẽ có cánh nhưng liệu tôi có đủ khả năng để bay không? Mà nếu có bay được thì cũng sẽ chẳng được xa là bao đâu! Liệu tôi có thể làm được điều gì cho Nerris đây? Khoảng thời gian còn lại của chúng tôi không những đã ngắn rồi mà lại còn bị rút ngắn hơn nữa. Tôi chẳng có thể và cũng chẳng muốn trách ai hết cả. Bởi lẽ khoảng thời gian của chúng tôi, những kỉ niệm đẹp đẽ mà tôi có được và cả những hồi ức không mấy vui tươi nữa,… tất cả bấy nhiêu có lẽ đã là quá nhiều so với người khác rồi. Thế nhưng một con người đã sinh ra trên cái thế giới này thì phải có lòng tham, đó là điều không đổi khác được. Nếu Nerris không ở bên tôi mãi được thì tôi ước mình có thể ở bên cậu ấy!

Chúng tôi cứ ngồi đó suốt cả chiều, cả hai gần như chẳng làm gì hết ngoài việc nhìn ngắm cái thế giới luôn thay đổi nhiều đến mức khiến cho chính nó gần như chẳng bao giờ thay đổi được. Một cơn gió phương Nam nhẹ nhàng thổi qua, âm thanh xào xạc trên cánh đồng vẫn cứ vang lên cho tới khi ánh chiều tà hiện ra trước mắt chúng tôi…

*              *
*


 Ngày tiếp theo đến với tôi nhanh hơn một cơn gió. Buổi sáng tôi giúp Nerris chăm sóc cho lũ chim và thả chúng đi. Với những chú chim ở vùng này thì chúng tôi đưa chúng trở về nơi thực sự thuộc về chúng hoặc chỉ đơn thuần là thả chúng trở về bầu trời tự do-nơi loài chim thuộc về thôi. Còn với những chú chim ở quá xa thì chúng tôi sẽ gửi chúng qua bưu điện. Một số được gửi tới cho bố mẹ của Nerris còn số khác được gửi tới các khu bảo tồn động vật. Buổi trưa, tất cả đã hoàn tất, tôi trở về nhà trong khi Nerris chuẩn bị đồ đạc cho chuyến đi của mình.

 Điều cuối cùng, điều tôi không mong chờ nhất đang đến gần hơn bao giờ hết. Nó đứng trước mắt tôi một cách rõ ràng đến vậy mà tôi lại không thể làm gì được cả. Tôi không thể lôi kéo hiện thực, để nó đi theo con đường tôi muốn được nhưng tôi cũng không nên qua đau buồn. “Bất lực!” Liệu hai từ ấy có hợp với tôi không?

 Người ta vẫn thường nói: “Con người gặp gỡ, xa cách rồi sẽ có ngày gặp lại”. Nhưng tôi lại không hề hi vọng cái ngày như thế, cái ngày để gặp lại sẽ thực sự tồn tại. Và tôi lại càng không thể quên đi cái cuộc sống của ngày hôm qua được. Vậy mà sự lựa chọn duy nhất tôi có thể chọn là phải quên nó đi…

 “Có lẽ… tất cả sẽ tốt hơn nếu… tôi có một đôi cánh…”

6 giờ kém 20 hay nói đúng hơn là 17 giờ 40 phút tôi một mình đi tới nhà ga. Chỉ cần liếc qua thôi tôi cũng có thể thấy được có bao nhiêu con người không ngừng nhìn vào tôi. Tôi chẳng giống với một người đi tàu cũng chẳng giống một người đang đến tiễn ai đó cả. Cho đến khi tôi lại đứng gần chỗ Nerris thì mọi người mới thôi nhìn về phía tôi được. Cậu ấy-Nerris đang đứng chờ ở đó với bộ trang phục không khác hồi sáng là bao trên tay trái đang cầm một chiếc vali còn tay phải là một chiếc lồng được trùm kín bằng khăn màu nhung đỏ. Tôi vội nhớ tới đôi chim xanh mà mẹ cậu ấy tặng hồi sinh nhật. Xét về nhiều mặt thì đôi chim này thuộc về cậu ấy nên việc mang nó theo là điều có thể. Sau một hồi tĩnh lặng, dù rằng không gian nơi đây vẫn đang ồn ào, một âm thanh cất lên:

“Cậu có thể giúp tớ một việc được chứ?”

Giọng nói mà tôi nghe được không phải của bản thân mà cũng chẳng phải từ một người xa lạ, đó là người đang đứng bên phải tôi lúc này. Giọng nói ấy thì vẫn luôn quen thuộc như ngày nào nhưng những ngôn từ ấy thì gần như đây là lần đầu tôi được nghe. Cho đến giờ, gần như Nerris chẳng bao giờ yêu cầu hay đề nghị tôi làm một việc gì cả.

“Cậu cần mình làm gì?”
_...dù là gì mình cũng sẽ làm! Đó là điều tôi nghĩ nhưng có lẽ không nói ra vẫn sẽ tốt hơn.

 Nerris đưa tay phải đang nắm chắc lấy chiếc lồng ra. Cánh tay ấy có vẻ như vẫn còn do dự nhưng những lời nói của cậu ấy thì lại không ngừng toát lên một sự quả quyết:

“Hãy thả chúng đi!”

“Hãy thả chúng ở ngọn đồi kia ngay khi tàu chạy!”

 Phải chăng cậu ấy chỉ thả chúng để cho vui? Nhưng không, Nerris không bao giờ coi nhẹ điều gì đặc biệt là với những chú chim. Cậu ấy yêu quý những chú chim này hơn vô số thứ trên đời này mà lại có thể nói thả chúng đi dễ dàng như vậy sao? Mà tại sao người làm điều đó lại là tôi? Hẳn phải có điều gì đó ẩn sau việc này. Nhưng đó không phải là vấn đề:

“Tớ sẽ làm…”

“…Tớ sẽ làm nếu đó là điều cậu muốn…”

Ngay lập tức cánh tay tôi dựt lấy chiếc lồng từ tay cậu ấy, tôi bỏ xa bóng hình của sân nhà ga, hình ảnh của đoàn người tấp nập vào cả khuôn mặt của Nerris để chạy hết sức về phía ngọn đồi kia.

 Ngọn đồi trước kia có những khi tôi tưởng như dài mãi ngày hôm nay sao lại ngắn vậy? Chỉ cách tôi có một vài mét đã là đỉnh đồi rồi! Cầm chắc trong tay là chiếc lồng chim tôi tự hỏi bản thân mình đang chạy với cảm xúc gì. Một âm thanh lạ bỗng vang lên như cố gây sự chú ý của ai đó. Đó là tiếng còi tàu hỏa hòa lẫn với tiếng của những bánh xe va đập vào đường ray.

“Kííít!”

  Âm thanh ấy phát ra từ con tàu mà ở nơi mà tôi đã bỏ lại phía sau. Khi nhận ra những âm thanh ấy có một cái gì đó như thúc tôi chạy thật nhanh, nhanh hơn nữa. Thế nhưng cũng có một cái gì đó nứu lấy chân tôi, tạo một cảm giác nặng lề khiến tôi như không thể chuyển động được nữa. Cảm giác nặng hơn bất cứ vật gì tôi từng cầm nắm này khiến cho cái khoảng cách “một vài mét” kia bỗng trở nên vô tận.

 Tôi không thể chạy hay chính xác hơn là di chuyển và lại càng không thể cứ đứng đó mãi được. Quay đầu về phía Nerris, tôi nhận ra cậu ấy đang chuẩn bị lên tàu. Cậu ấy đứng ở đó, nhìn về hướng tôi với cánh tay phải đang miêu tả một hành động nào đó. Hành động ấy vẫn liên tục lặp lại cho tới khi có một người từ trên tàu hét lên điều gì đó như nhắc cậu ấy lên tàu. Cả thế giới gần như xụp xuống, chỉ còn tôi, Nerris và con tàu. Tôi có cảm giác như thứ quan trọng nhất, ý nghĩa sống duy nhất của tôi đang rời bỏ tôi. “Tớ chỉ muốn ở bên Nerris mãi mãi!” Một giọng nói như vang lên từ nơi sâu thẳm nhất trong trái tim tôi vậy…

 Trên con tàu, tôi nhìn thấy Nerris, cánh tay cậu ấy vẫn không ngừng lặp lại một hành động với đôi mắt hướng về tôi. Tôi chắc chắn rằng cánh tay ấy dù có làm gì thì cũng không phải vẫy chào. Hành động mà Nerris miêu tả hơi giống với việc cầm chìa khóa hay một vật tương tự để mở một cái gì đó. Thật vô nghĩa! Cậu ấy muốn tôi mở cái gì? Đâu có cái gì tôi có thể mở được ở quanh đây. Chiếc lồng! Nerris muốn tôi thả đôi chim màu xanh kia ngay bây giờ?

 Một lần nữa, không do dự, tôi nhanh chóng bỏ chiếc khăn nhung ra. Ở bên trong, một chiếc lồng chim màu bạc với họa tiết tinh sảo hiện ra. Bên trong chiếc lồng ấy là hai chú chim với đôi mắt và bộ lông màu xanh biển đẹp đẽ. “Đôi chim này rất giống cháu và Nerris…” Tôi bỗng nhớ tới lời mà mẹ của Nerris đã nói trước kia. Những lời khiến tôi vẫn không ngừng sự hoài nghi cho dù về nhiều mặt thì tôi lại thấy nó rất đúng. Có thật là như vậy không? Hai chú chim này gần như chẳng bao giờ tách nhau ra cả. Và chúng tôi cũng vậy, ít nhất là đến giờ phút này. Chỉ có một cách duy nhất để tôi có thể biết được câu trả lời. Ngay lập tức, cánh tay tôi mở chiếc lồng ra. Vút lên không, như hòa làm một với bầu trời vô tận là đôi cánh mang sắc xanh đang trải rộng. “Đợi đã!” Tôi gần như thốt ra câu nói ấy. Ánh mắt vẫn nhìn lên bầu trời xanh kia, tôi nhận ra ở nơi cao ngoài tầm với kia chỉ có duy nhất một chú chim xanh. Dựa vào hình dáng ấy tôi có thể biết được đây là chú chim đực. Với sự hoang mang, tôi quan sát khắp mọi nơi để tìm kiếm con cái. Nơi cuối cùng, nơi tôi chưa bao giờ tìm, đó là chiếc lồng bạc, bên trong chiếc lộng ấy con chim cái vẫn đứng yên và nhìn tôi như thể nó không muốn bay. Từ lần đầu tiên nhìn thấy nó đến giờ, gần như nó chẳng bao giờ bay cả. Tôi không biết tại sao lại như vậy và cùng không hề muốn biết điều đó. Nhưng bây giờ thì tôi lại muốn biết! Tôi muốn được biết tại sao… Tại sao nó lại không bay lên. Trước mắt nó, trên bầu trời xanh kia, người quan trọng hơn ai hết đối với nó đang sắp rời bỏ nó. Nếu tôi là nó, nếu tôi cũng có một đôi cánh, nếu tôi cũng có thể bay thì tôi sẽ không ngần ngại trước bất cứ điều gì để bay lên từ lâu rồi. Nhưng tại sao tôi-người cần có một đôi cánh thì lại không có còn thứ ở trong chiếc lồng kia, thứ có thể bay được lại vứt bỏ đôi cánh của mình đi?

 Con chim đực bay ngày càng cao, càng xa, xa khỏi nơi này trong khi con cái vẫn chẳng nhúc nhích đôi cánh của mình. Tôi cố hết sức mình, tìm mọi cách để khiến con cái bay nhưng tất cả những gì nó đáp lại tôi vẫn chỉ là đôi mắt ấy. Đôi mắt của nó không phản ánh sự tuyệt vọng mà là một niềm hy vọng không ngừng. Hết nhìn tôi, nó lại nhìn con chim đực đang bay ngày càng cao hơn.

“Tuuuuuuuu…”

 Một âm thanh vang lên ở phía chân ngọn đồi kia. Khi tôi kịp nhận ra thì con tàu của Nerris đã bắt đầu chuyển bánh. Cùng lúc với nó, con chim xanh trên bầu trời kia cũng bắt đầu bay về phía Tây, dọc theo đường tàu hỏa. Trên tay tôi, bên trong chiếc lồng kia, con chim màu xanh còn lại có vẻ như sẽ chẳng bao giờ dùng đôi cánh của mình vẫn nhìn về  phía con chim đang bay. Tôi có cảm giác đôi mắt ấy không có khao khát được bay nhưng cũng không muốn con chim kia được ở lại nơi này hay nhớ đến nó. Đôi mắt ấy như đang cầu nguyện, cầu cho đôi cánh kia sẽ bay thật xa, thật cao, bay tới nơi xa thẳm của thế giới thôi. Hình ảnh của vật đang lơ lửng trên không trung kia cũng như con tàu đang dần khuất bóng cùng với ánh hoàng hôn rực rỡ. Bây giờ thế giới chỉ còn tôi, chiếc lồng, một con chim xanh và một khoảng trời trống rỗng. Có vẻ như tôi đã hiểu được lời mẹ Nerris nói rồi. Nó cũng đồng thời chính là nguyện ước của con chim xanh kia. Nó không muốn mãi ở bên con chim đực mà chỉ muốn con chim đực được hạnh phúc. Chỉ đơn giản là vậy thôi,… “Được hạnh phúc!” Tất cả chỉ có vậy! Nhưng nếu con chim đực-Nerris hạnh phúc thì liệu tôi có như vậy không? Nếu đây là truyện cổ tích thì dĩ nhiên tôi sẽ làm sao cho người mình yêu quý hạnh phúc. Sau đó tất cả sẽ đi đến cái kết “hạnh phúc mãi mãi về sau” phải không nhỉ? Không, cuộc sống sẽ không phải như vậy! Một người bình thường còn không thể có được thứ mang tên hạnh phúc kia thì còn nói gì tới một kẻ ích kỉ như tôi?

 Nhưng lúc này thì tôi biết phải làm sao đây? Tôi đâu còn có thể ích kỉ được nữa! Nếu dồn hết sức mình mà chạy xuống ngọn đồi kía cũng chẳng tài nào đuổi kịp chuyến tàu đã cất bước trên đường dây nữa.

 Giá như tôi có thể rút lại lời nguyện ước của mình thì thật tốt biết mấy. Vừa nghĩ tôi vừa khẽ thì thầm một lời nguyện ước khác. Khi tôi vừa rứt lời một cơn gió nhẹ nhàng thổi qua như mang theo những lời của tôi đi. Mang chúng đi, đi tới một nơi xa xôi nào đó.

“Nerris, cậu có biết không? Nếu có một điều ước, mình sẽ ước cho Nerris được hạnh phúc mãi mãi.”

*              *
*


 Đã một năm kể từ khi Nerris rời khỏi ngôi nhà này, mọi thứ vẫn vậy, đâu vào đấy như nó đã từng. Cả tôi, con chim xanh ngày ấy và chiếc lồng bạc, tất cả đều ở đây.

“Cộc cộc cộc…”

Cánh cửa gỗ cũ kĩ vang lên những thanh âm vô cùng quen thuộc chỉ có điều lúc này người ở trong nhà là tôi thay vì Nerris-chủ nhân của nơi này. Tôi tự hỏi ở bên kia cánh cửa ai đang đứng chờ.

“Kééééét”
Một âm thanh cũng không kém phần quen thuộc lại vang lên bên tai tôi. Trước mắt tôi, một khuôn mặt lại càng thân quen với chiếc vali nâu đang đứng chờ trước cửa. Rõ hơn bất cứ ai hết, tôi biết người đang đứng trước tôi lúc này là ai nhưng tôi cũng rất ngạc nhiên:
“Tại sao cậu lại quay về nơi này?”

Trong cái vẻ đầy chất bác học ấy, cậu lại trích dẫn một câu từ tác phẩm văn học nào đó mà tôi chưa hề nghe tới:

“Người du hành dù có đi tới bất cứ phương trời nào thì họ vẫn chỉ có một quê hương duy nhất trong tim để trở về thôi!”

 Nerris chưa bao giờ coi tôi là gì nhiều hơn một người bạn hoặc ít nhất đó là những gì tôi nghĩ. Có thể cậu chỉ đang khéo léo che đậy điều gì đó như mọi khi hay đây là suy nghĩ thật của cậu. Nhưng dù đó là gì thì tôi giờ đây cũng không còn quan tâm tới mấy chuyện như vậy nữa. 

Một âm thanh bỗng vang lên từ nơi góc cửa sổ kia, một điều diệu kì mà có lẽ chắc chỉ trong mơ mới có đã thành thật. Nerris trở về thì tôi còn tin được chứ còn đôi cánh xanh biếc vừa vút qua mắt tôi kia thì chắc chỉ có mơ mới có thôi. Có lẽ đây mới là ngôi nhà thực sự của nó. Vì vậy dù có bay về nơi phương trời vô định nào đi nữa thì hai từ “trở về” vẫn sẽ tồn tại. Có vẻ như cái tôi bây giờ đã cảm nhận được ý nghĩa của niềm hạnh phúc. Liệu có phải tất cả chỉ mới bắt đầu hay đây đã là cái kết hạnh phúc dành cho tôi rồi nhỉ?