“Nerris, cậu có biết không? Nếu có một
điều ước, mình sẽ ước trên vai mình lúc này đây là một đôi cánh.”
“Tại sao vậy?”
“Tại sao ư…? Mình cũng chẳng biết nữa…”
* *
*
Chỉ còn hai ngày nữa thôi! Chỉ còn hai ngày
nữa là kết thúc mùa hè cuối cùng bên Nerris rồi! Ngoài việc ngồi than thở và
lặng lẽ nhìn thời gian lướt qua, tôi chẳng còn biết làm gì hơn cả. Chỉ cần nhắm
mắt và tưởng tượng thôi, hai ngày nữa, hai ngày nữa thôi là khuôn mặt, nụ cười
và hình bóng của Nerris sẽ chỉ là kí ức đối với tôi. Cứ nghĩ đến điều đó là tim
tôi như vỡ ra thành nghìn mảnh. Tôi muốn Nerris luôn ở bên tôi, luôn cùng tôi
đi mãi cho đến nơi tận cùng của cái thế giới này. Nhưng đây là lần thứ bao
nhiêu tôi ích kỉ như thế này rồi?
Nerris là người bạn duy nhất của tôi từ khi
còn học tiểu học. Cái gì tôi cũng kém còn Nerris thì lại giỏi. Dù không muốn
nhưng cậu ấy có rất nhiều bạn còn tôi chẳng có ai ngoài cậu ấy. Tôi cảm thấy
mình thật vô dụng. Phải, tôi vô dụng đối với chính tôi cũng như đối với Nerris
và tất cả mọi người trên thế giới này.
Hôm nay là một ngày oi bức trên cánh đồng mùa
hạ, tôi lại dạo bước trên con đường thân quen ấy. Tôi gần như thuộc hết từng
gốc cây ngọn cỏ trên con đường này bởi lẽ ngày nào tôi chẳng đi qua nó. Đây
rồi, băng qua cánh đồng mùa hạ ấy, một ngôi nhà cổ kính với kiến trúc phương
Tây trang nhã đang đứng lẻ loi một mình. Đó chính là nhà của Nerris.
Nerris sống một mình ở ngôi nhà này từ hồi lớp
7. Bố mẹ cậu ấy nghiêm cứu về sinh vật học nên không có thời gian để ở lại lâu
ở đâu cả. Nhưng vì không muốn gây ảnh hưởng tới việc học của Nerris nên hai
người họ đã để cậu ấy lại thị trấn này. Tôi luôn biết rằng ở đâu đó trong con
người cậu ấy vẫn khao khát cái hơi ấm và tình yêu thương của gia đình dù Nerris
chẳng bao giờ nói mình cô đơn cả. Đó cũng là một điều dĩ nhiên vì con trai thì
làm sao có thể khóc lên mỗi khi thấy buồn giống như con gái được. Không biết
như thế này có thành ra phiền hay không nhưng có lẽ đến nhà cậu ấy mỗi ngày như
thế này sẽ giúp cho ngôi nhà nhỏ bé ấy đỡ buồn chán đi được phần nào đó.
“Cộc cộc cộc… ”
“Kééééét”
Cuối cùng Nerris cũng chịu mở cửa rồi.
Tôi nở một nụ cười và nói:
“Chào buổi sáng, Nerris!”
Cái giọng nói ấy lại cất lên, không
vui tươi mà cũng chẳng uể oải như mọi ngày:
“Chào buổi sáng.”
“Hôm nay cậu sẽ nghiên cứu về cái gì
vậy?”
Câu hỏi thường ngày của tôi lại cất.
Đó cũng đồng thời là câu nói thứ hai của tôi với Nerris.
“Hôm nay tớ sẽ dọn dẹp phòng nghiên
cứu!”
Bố mẹ Nerris đã làm một căn phòng nhỏ
để cậu ấy nghiên cứu. Nerris rất thích tìm hiểu về thiên nhiên. Ngoài ra cậu ấy
rất yêu động vật, đặc biệt là các loài chim. Tuy nói là “phòng nghiên cứu”
nhưng trong căn phòng này chẳng có nhiều mẫu vật lắm, đa phần chỉ là các văn
bản báo cáo do Nerris viết lại thôi. Do đó việc dọn dẹp căn phòng này cũng
chẳng phải là một điều khó khăn lắm. Công việc của chúng tôi chỉ đơn giản là
phân loại và xếp những bài báo cáo ấy lên giá sách mà thôi. Nói là phân loại
nhưng chỉ cần kiểm tra xem chúng có bị lẫn vào nhau hay không thôi bởi ngay từ
đầu Nerris đã sắp xếp mọi thứ một cách phù hợp nhất đối với chính cậu ấy rồi.
Hơn 11 giờ, công việc của chúng tôi đã xong hoàn toàn.
Có lẽ mọi thứ dễ dàng như vậy vì tôi đã quen
với công việc này rồi. Mỗi năm Nerris đều dọn phòng nghiên cứu của cậu ấy 5
lần. Lần thứ nhất là ngay sau kì thi cuối năm của chúng tôi- cuối xuân đầu hạ.
Lần thứ hai là hôm nay-hai ngày trước khi mùa hè kết thúc. Và điều hiển nhiên
là lần thứ ba và bốn rơi vào khoảng thời gian cuối thu và đông. Vậy còn một lần
nữa? Lần dọn dẹp cuối cùng trong năm là
khoảng thời gian trước Tết. Tôi đến nhà Nerris để cùng cậu ấy dọn dẹp vào tất
cả mọi lần trừ lần thứ năm. Trước Tết là khoảng thời gian bận dộn nhất, vì vậy
tôi phải ở nhà để phụ giúp cha mẹ.
Tôi bỗng thấy nhớ lần đầu cùng Nerris dọn dẹp.
Tôi bắt đầu qua nhà Nerris thường xuyên hơn từ hồi cuối lớp 6. Lần đầu tiên tôi cùng cậu ấy dọn căn phòng này
còn có cả mẹ cậu ấy nữa nhưng giờ đây tất cả đều do hai chúng tôi. Có thể nói
mấy lần đầu tôi chẳng biết làm thế nào cả. Không phải vì tôi không biết làm mà
vì mọi thứ đều được sắp xếp theo một cách rất kì lạ. Tuy nhiên, bây giờ tôi cảm
thấy tất cả đều thật đơn giản.
Đứng lên khỏi chiếc ghế gỗ, tôi nhẹ nhàng bước
tới nơi cách cửa xổ đang khép mình và
khẽ mở nó. Phía ngoài kia-khu vườn nhỏ nhà Nerris, những tia nắng đang
chiếu rọi qua những tán cây cổ thụ. Chúng không chiếu xuống mặt đất bằng một
sắc màu ấm ấp nữa vì…
“Giờ đã là buổi trưa rồi!”
“À, ừ, bây giờ đã trưa rồi, cậu có
muốn ăn gì không?”
Một buổi dã ngoại bình thường trên cánh đồng
tĩnh lặng. Dưới bóng cây cổ thụ khổng lồ tôi có thể cảm nhận được những con gió
mùa hè đang nhẹ nhàng thổi từ phương Nam. Trước đây tôi từng cảm thấy
mùa hè là thời điểm hạnh phúc nhất trong năm nhưng giờ đây, chính vào cái lúc
“hạnh phúc nhất trong năm” này mà tôi sắp phải rời xa Nerris rồi.
“À phải rồi Nerris, cậu sẽ đi vào sáng ngày
kia phải không? Mình sẽ đến đây và đi cùng cậu ra nhà ga nhé?”
Tôi mỉm cười, nhìn về phía Nerris như
tìm kiếm câu trả lời. Nerris nhìn vào một cái gì đó xa vời ngoài kia rồi giọng
cậu lại cất lên:
“Kế hoạch thay đổi rồi, tớ sẽ đi vào
ngày mai. Lúc 17 giờ 45’ chiều mai!”
Tôi cố gắng dấu đi cái vẻ bàng hoàng
như nghe một tin rất xấu:
“Vậy à? Dù hơi sớm nhưng ‘Đi đường cẩn
thận nhé!’”
Một nụ cười nhỏ bé đang ánh lên trên
khuôn mặt của tôi.
Tất nhiên vẫn có một nỗi buồn thoang
thoảng ở đâu đó nhưng điều mà bạn có thể nhìn thấy rõ nhất vẫn là nụ cười. Nụ
cười của tôi không giống như kiểu thở phào nhẹ nhõm trước một việc đã qua mà nó
giống như đang cảm tạ Thượng đế về một điều gì đó vậy. Vậy là thời gian còn lại
của hai chúng tôi sẽ không phải là quá ngắn tuy nhiên đây sẽ là buổi chiều cuối
cùng của tôi và Nerris rồi!
Đôi mắt
của cậu ấy nhìn về phía bầu trời xa xôi và những dãy núi đang nối tiếp nhau ở
nơi đường chân trời xa thẳm một lát rồi lại nhìn về phía cánh đồng bạt ngàn
trước mắt chúng tôi. Bất giác, một chú chim nhỏ đậu xuống trên ngọn đồi nơi
chúng tôi đang ngồi. Điều này có vẻ hơi kì lạ vì những chú chim nhỏ bé như chú
chim này sẽ chẳng bao giờ lại gần con người như thể này cả. Và điều tất nhiên
là chú chim này bay ra từ phòng thí nghiệm của Nerris rồi. Một lý do ư? Sẽ
chẳng có lí do nào để chúng không được tự do bay lượn như vậy. Vì Nerris đã
từng nói cậu ấy rất yêu quý động vật nhưng cậu ấy không muốn chúng trở thành
“tù nhân” của nơi này. Cậu ấy luôn muốn chúng được tự do vì vậy sau khi hoàn
thành bài nghiên cứu của mình Nerris đều để chúng được trở về với mẹ thiên
nhiên. Nhưng một điều kì diệu đã xảy ra, những chú chim đã từng bay đi lại một
lần nữa trở lại nơi này. Phải chăng những loài chim đã kể cho nhau nghe về “ngôi
nhà” này rồi nhỉ? Cái nơi mà chúng có thể trở về bất cứ khi nào mình muốn và ở
nơi ấy chúng sẽ luôn nhận được tình yêu thương và sự chăm sóc của Nerris. Ngay
cả những chú chim chưa từng được nghiên cứu cũng sẽ được chào đón ở nơi đây và
khi chúng bay đi, bay mãi và không còn trở lại thì Nerris cũng chẳng bao giờ
mắng trách chúng một lời nào cả. Còn lúc này đây, tôi tự hỏi, liệu những chú
chim sẽ ra sao khi Nerris không còn ở đây nữa? Những chú chim lữ khách chỉ một lần nghé qua nơi này thì có thể sẽ không
sao nhưng những chú chim vẫn đang được nghiên cứu? Tôi không tin rằng Nerris sẽ
bỏ mặc chúng đâu, nhưng vẫn còn ba, bốn chú chim vẫn chưa được nghiên cứu nữa.
Giá như tôi có thể giúp đỡ Nerris nhiều hơn thì tốt biết mấy. Một ngày nào đó,
khi Nerris rang rộng đôi cánh của mình và bay trên bầu trời xanh rộng lớn kia,
tôi muốn được cùng bay với cậu ấy, được giúp đỡ và mãi mãi ở bên cậu ấy… Nhưng
tất cả chỉ là một giấc mơ viển vông, một giấc mơ vô cùng xa xôi mà tôi chẳng
bao giờ có thể với được cả.
“Cậu còn nhớ đôi chim màu xanh biển
không?”
Đã được một lúc khá lâu kể từ lần cuối
cùng chúng tôi nói chuyện rồi. Lúc này, mặt trời đã lên tới đỉnh cao nhất của
bầu trời, tiếng ve sầu kêu ngày một rõ. Câu hỏi của Nerris khiến tôi hơi có
chút ngạc nhiên. Nhưng tôi ngạc nhiên không phải là vì nội dung của câu hỏi mà
vì người đặt ra và thời điểm mà nói được hỏi.
“Tất nhiên mình nhớ rất rõ rồi!”
Đó là cái lần thứ ba tôi tới dự tiệc
sinh nhật của Nerris mà nó cũng không hẳn là một bữa tiệc. Bởi tất cả những gì
chúng tôi có là một chiếc bánh kem nhỏ và mấy cái kẹo.
Còn về người tham dự thì hẳn là ai
cũng rõ, chỉ có tôi và Nerris. Lúc ấy trời vừa tối được một lát thì có tiếng gõ
cửa. Khi hai chúng tôi ra mở cửa thì gặp bác đưa thư với một chiếc lồng nhỏ bọc
vải ở ngoài và một lá thư trên tay. Nerris nhận thư và chiếc lồng ấy sau khi
biết được điạ chỉ của người gửi. Dù bên ngoài lá thư chỉ có dòng chữ “Chúc mừng
sinh nhật” và nơi nhận thư nhưng cả hai chúng tôi đều có thể biết được người
gửi qua những dòng chữ ấy. Người gửi bức thư đó không ai khác chính là bố mẹ
của Nerris. Còn trong chiếc lồng kia là hai chú chim với bộ lông và đôi mắt màu
xanh biển được mẹ cậu ấy gửi tới với một thông điệp mà cho đến giờ chúng tôi
vẫn chưa thể nào hiểu được.
“Nhưng, Nerris thấy có điều gì không
ổn về chúng à?”
“À,… Không, không có gì đâu!”
Khi người ta nói “không có gì đâu” thì
chẳng mấy khi nó thực sự có nghĩa đó. Nhưng tôi cũng sẽ không hỏi gì thêm về
chúng hết vì Nerris chỉ không kể cho tôi một chuyện gì đó khi cậu ấy đã có cách
giải quyết của riêng mình thôi…
“Nerris, cậu có biết không? Nếu có một
điều ước, mình sẽ ước trên vai mình lúc này đây là một đôi cánh.”
“Tại sao vậy?”
“Tại sao ư…? Mình cũng chẳng biết
nữa…Có lẽ vì… mình muốn được ở bên Nerris mãi mãi…”
Bản thân tôi cũng chẳng thể hiểu được
tại sao mình lại nói ra những lời ấy nữa nhưng tôi luôn muốn mình có thể giúp
được một điều gì đó cho Nerris. Thử nghĩ mà xem, nếu chúng tôi là hai chú chim
thì sao? Chắc chắn Nerris sẽ là một chú chim tuyệt đẹp với đôi cánh luôn mở
rộng như đã sẵn sàng bay. Còn tôi thì lại khác, nếu bản thân là một chú chim
thì dĩ nhiên tôi sẽ có cánh nhưng liệu tôi có đủ khả năng để bay không? Mà nếu
có bay được thì cũng sẽ chẳng được xa là bao đâu! Liệu tôi có thể làm được điều
gì cho Nerris đây? Khoảng thời gian còn lại của chúng tôi không những đã ngắn
rồi mà lại còn bị rút ngắn hơn nữa. Tôi chẳng có thể và cũng chẳng muốn trách
ai hết cả. Bởi lẽ khoảng thời gian của chúng tôi, những kỉ niệm đẹp đẽ mà tôi
có được và cả những hồi ức không mấy vui tươi nữa,… tất cả bấy nhiêu có lẽ đã
là quá nhiều so với người khác rồi. Thế nhưng một con người đã sinh ra trên cái
thế giới này thì phải có lòng tham, đó là điều không đổi khác được. Nếu Nerris
không ở bên tôi mãi được thì tôi ước mình có thể ở bên cậu ấy!
Chúng tôi cứ ngồi đó suốt cả chiều, cả
hai gần như chẳng làm gì hết ngoài việc nhìn ngắm cái thế giới luôn thay đổi
nhiều đến mức khiến cho chính nó gần như chẳng bao giờ thay đổi được. Một cơn
gió phương Nam
nhẹ nhàng thổi qua, âm thanh xào xạc trên cánh đồng vẫn cứ vang lên cho tới khi
ánh chiều tà hiện ra trước mắt chúng tôi…
* *
*
Ngày tiếp theo đến với tôi nhanh hơn một cơn
gió. Buổi sáng tôi giúp Nerris chăm sóc cho lũ chim và thả chúng đi. Với những
chú chim ở vùng này thì chúng tôi đưa chúng trở về nơi thực sự thuộc về chúng
hoặc chỉ đơn thuần là thả chúng trở về bầu trời tự do-nơi loài chim thuộc về
thôi. Còn với những chú chim ở quá xa thì chúng tôi sẽ gửi chúng qua bưu điện.
Một số được gửi tới cho bố mẹ của Nerris còn số khác được gửi tới các khu bảo
tồn động vật. Buổi trưa, tất cả đã hoàn tất, tôi trở về nhà trong khi Nerris
chuẩn bị đồ đạc cho chuyến đi của mình.
Điều cuối cùng, điều tôi không mong chờ nhất
đang đến gần hơn bao giờ hết. Nó đứng trước mắt tôi một cách rõ ràng đến vậy mà
tôi lại không thể làm gì được cả. Tôi không thể lôi kéo hiện thực, để nó đi
theo con đường tôi muốn được nhưng tôi cũng không nên qua đau buồn. “Bất lực!”
Liệu hai từ ấy có hợp với tôi không?
Người ta vẫn thường nói: “Con người gặp gỡ, xa
cách rồi sẽ có ngày gặp lại”. Nhưng tôi lại không hề hi vọng cái ngày như thế,
cái ngày để gặp lại sẽ thực sự tồn tại. Và tôi lại càng không thể quên đi cái
cuộc sống của ngày hôm qua được. Vậy mà sự lựa chọn duy nhất tôi có thể chọn là
phải quên nó đi…
“Có lẽ… tất cả sẽ tốt hơn nếu… tôi có một đôi
cánh…”
6 giờ kém 20 hay nói đúng hơn là 17
giờ 40 phút tôi một mình đi tới nhà ga. Chỉ cần liếc qua thôi tôi cũng có thể
thấy được có bao nhiêu con người không ngừng nhìn vào tôi. Tôi chẳng giống với
một người đi tàu cũng chẳng giống một người đang đến tiễn ai đó cả. Cho đến khi
tôi lại đứng gần chỗ Nerris thì mọi người mới thôi nhìn về phía tôi được. Cậu
ấy-Nerris đang đứng chờ ở đó với bộ trang phục không khác hồi sáng là bao trên
tay trái đang cầm một chiếc vali còn tay phải là một chiếc lồng được trùm kín
bằng khăn màu nhung đỏ. Tôi vội nhớ tới đôi chim xanh mà mẹ cậu ấy tặng hồi sinh
nhật. Xét về nhiều mặt thì đôi chim này thuộc về cậu ấy nên việc mang nó theo
là điều có thể. Sau một hồi tĩnh lặng, dù rằng không gian nơi đây vẫn đang ồn
ào, một âm thanh cất lên:
“Cậu có thể giúp tớ một việc được
chứ?”
Giọng nói mà tôi nghe được không phải
của bản thân mà cũng chẳng phải từ một người xa lạ, đó là người đang đứng bên
phải tôi lúc này. Giọng nói ấy thì vẫn luôn quen thuộc như ngày nào nhưng những
ngôn từ ấy thì gần như đây là lần đầu tôi được nghe. Cho đến giờ, gần như
Nerris chẳng bao giờ yêu cầu hay đề nghị tôi làm một việc gì cả.
“Cậu cần mình làm gì?”
_...dù là gì mình cũng sẽ làm! Đó là
điều tôi nghĩ nhưng có lẽ không nói ra vẫn sẽ tốt hơn.
Nerris đưa tay phải đang nắm chắc lấy chiếc
lồng ra. Cánh tay ấy có vẻ như vẫn còn do dự nhưng những lời nói của cậu ấy thì
lại không ngừng toát lên một sự quả quyết:
“Hãy thả chúng đi!”
“Hãy thả chúng ở ngọn đồi kia ngay khi
tàu chạy!”
Phải chăng cậu ấy chỉ thả chúng để cho vui?
Nhưng không, Nerris không bao giờ coi nhẹ điều gì đặc biệt là với những chú
chim. Cậu ấy yêu quý những chú chim này hơn vô số thứ trên đời này mà lại có
thể nói thả chúng đi dễ dàng như vậy sao? Mà tại sao người làm điều đó lại là
tôi? Hẳn phải có điều gì đó ẩn sau việc này. Nhưng đó không phải là vấn đề:
“Tớ sẽ làm…”
“…Tớ sẽ làm nếu đó là điều cậu muốn…”
Ngay lập tức cánh tay tôi dựt lấy
chiếc lồng từ tay cậu ấy, tôi bỏ xa bóng hình của sân nhà ga, hình ảnh của đoàn
người tấp nập vào cả khuôn mặt của Nerris để chạy hết sức về phía ngọn đồi kia.
Ngọn đồi trước kia có những khi tôi tưởng như
dài mãi ngày hôm nay sao lại ngắn vậy? Chỉ cách tôi có một vài mét đã là đỉnh
đồi rồi! Cầm chắc trong tay là chiếc lồng chim tôi tự hỏi bản thân mình đang
chạy với cảm xúc gì. Một âm thanh lạ bỗng vang lên như cố gây sự chú ý của ai
đó. Đó là tiếng còi tàu hỏa hòa lẫn với tiếng của những bánh xe va đập vào
đường ray.
“Kííít!”
Âm thanh ấy phát ra từ con tàu mà ở nơi mà tôi đã bỏ lại phía sau. Khi
nhận ra những âm thanh ấy có một cái gì đó như thúc tôi chạy thật nhanh, nhanh hơn
nữa. Thế nhưng cũng có một cái gì đó nứu lấy chân tôi, tạo một cảm giác nặng lề
khiến tôi như không thể chuyển động được nữa. Cảm giác nặng hơn bất cứ vật gì
tôi từng cầm nắm này khiến cho cái khoảng cách “một vài mét” kia bỗng trở nên
vô tận.
Tôi không thể chạy hay chính xác hơn là di
chuyển và lại càng không thể cứ đứng đó mãi được. Quay đầu về phía Nerris, tôi
nhận ra cậu ấy đang chuẩn bị lên tàu. Cậu ấy đứng ở đó, nhìn về hướng tôi với
cánh tay phải đang miêu tả một hành động nào đó. Hành động ấy vẫn liên tục lặp
lại cho tới khi có một người từ trên tàu hét lên điều gì đó như nhắc cậu ấy lên
tàu. Cả thế giới gần như xụp xuống, chỉ còn tôi, Nerris và con tàu. Tôi có cảm
giác như thứ quan trọng nhất, ý nghĩa sống duy nhất của tôi đang rời bỏ tôi. “Tớ
chỉ muốn ở bên Nerris mãi mãi!” Một giọng nói như vang lên từ nơi sâu thẳm nhất
trong trái tim tôi vậy…
Trên con tàu, tôi nhìn thấy Nerris, cánh tay
cậu ấy vẫn không ngừng lặp lại một hành động với đôi mắt hướng về tôi. Tôi chắc
chắn rằng cánh tay ấy dù có làm gì thì cũng không phải vẫy chào. Hành động mà
Nerris miêu tả hơi giống với việc cầm chìa khóa hay một vật tương tự để mở một
cái gì đó. Thật vô nghĩa! Cậu ấy muốn tôi mở cái gì? Đâu có cái gì tôi có thể
mở được ở quanh đây. Chiếc lồng! Nerris muốn tôi thả đôi chim màu xanh kia ngay
bây giờ?
Một lần nữa, không do dự, tôi nhanh chóng bỏ
chiếc khăn nhung ra. Ở bên trong, một chiếc lồng chim màu bạc với họa tiết tinh
sảo hiện ra. Bên trong chiếc lồng ấy là hai chú chim với đôi mắt và bộ lông màu
xanh biển đẹp đẽ. “Đôi chim này rất giống cháu và Nerris…” Tôi bỗng nhớ tới lời
mà mẹ của Nerris đã nói trước kia. Những lời khiến tôi vẫn không ngừng sự hoài
nghi cho dù về nhiều mặt thì tôi lại thấy nó rất đúng. Có thật là như vậy
không? Hai chú chim này gần như chẳng bao giờ tách nhau ra cả. Và chúng tôi
cũng vậy, ít nhất là đến giờ phút này. Chỉ có một cách duy nhất để tôi có thể
biết được câu trả lời. Ngay lập tức, cánh tay tôi mở chiếc lồng ra. Vút lên
không, như hòa làm một với bầu trời vô tận là đôi cánh mang sắc xanh đang trải
rộng. “Đợi đã!” Tôi gần như thốt ra câu nói ấy. Ánh mắt vẫn nhìn lên bầu trời
xanh kia, tôi nhận ra ở nơi cao ngoài tầm với kia chỉ có duy nhất một chú chim
xanh. Dựa vào hình dáng ấy tôi có thể biết được đây là chú chim đực. Với sự
hoang mang, tôi quan sát khắp mọi nơi để tìm kiếm con cái. Nơi cuối cùng, nơi
tôi chưa bao giờ tìm, đó là chiếc lồng bạc, bên trong chiếc lộng ấy con chim
cái vẫn đứng yên và nhìn tôi như thể nó không muốn bay. Từ lần đầu tiên nhìn
thấy nó đến giờ, gần như nó chẳng bao giờ bay cả. Tôi không biết tại sao lại
như vậy và cùng không hề muốn biết điều đó. Nhưng bây giờ thì tôi lại muốn
biết! Tôi muốn được biết tại sao… Tại sao nó lại không bay lên. Trước mắt nó,
trên bầu trời xanh kia, người quan trọng hơn ai hết đối với nó đang sắp rời bỏ
nó. Nếu tôi là nó, nếu tôi cũng có một đôi cánh, nếu tôi cũng có thể bay thì
tôi sẽ không ngần ngại trước bất cứ điều gì để bay lên từ lâu rồi. Nhưng tại
sao tôi-người cần có một đôi cánh thì lại không có còn thứ ở trong chiếc lồng
kia, thứ có thể bay được lại vứt bỏ đôi cánh của mình đi?
Con chim đực bay ngày càng cao, càng xa, xa
khỏi nơi này trong khi con cái vẫn chẳng nhúc nhích đôi cánh của mình. Tôi cố
hết sức mình, tìm mọi cách để khiến con cái bay nhưng tất cả những gì nó đáp
lại tôi vẫn chỉ là đôi mắt ấy. Đôi mắt của nó không phản ánh sự tuyệt vọng mà
là một niềm hy vọng không ngừng. Hết nhìn tôi, nó lại nhìn con chim đực đang
bay ngày càng cao hơn.
“Tuuuuuuuu…”
Một âm thanh vang lên ở phía chân ngọn đồi
kia. Khi tôi kịp nhận ra thì con tàu của Nerris đã bắt đầu chuyển bánh. Cùng
lúc với nó, con chim xanh trên bầu trời kia cũng bắt đầu bay về phía Tây, dọc
theo đường tàu hỏa. Trên tay tôi, bên trong chiếc lồng kia, con chim màu xanh
còn lại có vẻ như sẽ chẳng bao giờ dùng đôi cánh của mình vẫn nhìn về phía con chim đang bay. Tôi có cảm giác đôi
mắt ấy không có khao khát được bay nhưng cũng không muốn con chim kia được ở
lại nơi này hay nhớ đến nó. Đôi mắt ấy như đang cầu nguyện, cầu cho đôi cánh
kia sẽ bay thật xa, thật cao, bay tới nơi xa thẳm của thế giới thôi. Hình ảnh
của vật đang lơ lửng trên không trung kia cũng như con tàu đang dần khuất bóng
cùng với ánh hoàng hôn rực rỡ. Bây giờ thế giới chỉ còn tôi, chiếc lồng, một
con chim xanh và một khoảng trời trống rỗng. Có vẻ như tôi đã hiểu được lời mẹ
Nerris nói rồi. Nó cũng đồng thời chính là nguyện ước của con chim xanh kia. Nó
không muốn mãi ở bên con chim đực mà chỉ muốn con chim đực được hạnh phúc. Chỉ
đơn giản là vậy thôi,… “Được hạnh phúc!” Tất cả chỉ có vậy! Nhưng nếu con chim
đực-Nerris hạnh phúc thì liệu tôi có như vậy không? Nếu đây là truyện cổ tích
thì dĩ nhiên tôi sẽ làm sao cho người mình yêu quý hạnh phúc. Sau đó tất cả sẽ
đi đến cái kết “hạnh phúc mãi mãi về sau” phải không nhỉ? Không, cuộc sống sẽ không
phải như vậy! Một người bình thường còn không thể có được thứ mang tên hạnh
phúc kia thì còn nói gì tới một kẻ ích kỉ như tôi?
Nhưng lúc này thì tôi biết phải làm sao đây?
Tôi đâu còn có thể ích kỉ được nữa! Nếu dồn hết sức mình mà chạy xuống ngọn đồi
kía cũng chẳng tài nào đuổi kịp chuyến tàu đã cất bước trên đường dây nữa.
Giá như tôi có thể rút lại lời nguyện ước của
mình thì thật tốt biết mấy. Vừa nghĩ tôi vừa khẽ thì thầm một lời nguyện ước
khác. Khi tôi vừa rứt lời một cơn gió nhẹ nhàng thổi qua như mang theo những
lời của tôi đi. Mang chúng đi, đi tới một nơi xa xôi nào đó.
“Nerris, cậu có biết không? Nếu có một
điều ước, mình sẽ ước cho Nerris được hạnh phúc mãi mãi.”
* *
*
Đã một năm kể từ khi Nerris rời khỏi ngôi nhà
này, mọi thứ vẫn vậy, đâu vào đấy như nó đã từng. Cả tôi, con chim xanh ngày ấy
và chiếc lồng bạc, tất cả đều ở đây.
“Cộc cộc cộc…”
Cánh cửa gỗ cũ kĩ vang lên những thanh
âm vô cùng quen thuộc chỉ có điều lúc này người ở trong nhà là tôi thay vì
Nerris-chủ nhân của nơi này. Tôi tự hỏi ở bên kia cánh cửa ai đang đứng chờ.
“Kééééét”
Một âm thanh cũng không kém phần quen
thuộc lại vang lên bên tai tôi. Trước mắt tôi, một khuôn mặt lại càng thân quen
với chiếc vali nâu đang đứng chờ trước cửa. Rõ hơn bất cứ ai hết, tôi biết
người đang đứng trước tôi lúc này là ai nhưng tôi cũng rất ngạc nhiên:
“Tại sao cậu lại quay về nơi này?”
Trong cái vẻ đầy chất bác học ấy, cậu
lại trích dẫn một câu từ tác phẩm văn học nào đó mà tôi chưa hề nghe tới:
“Người du hành dù có đi tới bất cứ phương
trời nào thì họ vẫn chỉ có một quê hương duy nhất trong tim để trở về thôi!”
Nerris chưa bao giờ coi tôi là gì nhiều hơn
một người bạn hoặc ít nhất đó là những gì tôi nghĩ. Có thể cậu chỉ đang khéo
léo che đậy điều gì đó như mọi khi hay đây là suy nghĩ thật của cậu. Nhưng dù
đó là gì thì tôi giờ đây cũng không còn quan tâm tới mấy chuyện như vậy
nữa.
Một âm thanh bỗng vang lên từ nơi góc
cửa sổ kia, một điều diệu kì mà có lẽ chắc chỉ trong mơ mới có đã thành thật. Nerris
trở về thì tôi còn tin được chứ còn đôi cánh xanh biếc vừa vút qua mắt tôi kia thì
chắc chỉ có mơ mới có thôi. Có lẽ đây mới là ngôi nhà thực sự của nó. Vì vậy dù
có bay về nơi phương trời vô định nào đi nữa thì hai từ “trở về” vẫn sẽ tồn
tại. Có vẻ như cái tôi bây giờ đã cảm nhận được ý nghĩa của niềm hạnh phúc. Liệu
có phải tất cả chỉ mới bắt đầu hay đây đã là cái kết hạnh phúc dành cho tôi rồi
nhỉ?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét